Sống gần một anh láng giềng khổng lồ như Trung Quốc, người dân Việt Nam từ bao đời nay mặc dù bên ngoài luôn tỏ ra nhún nhường, tự kiềm chế tối đa để tránh mọi va chạm, xung đột nhưng bên trong luôn có một tâm thế cảnh giác cao độ. Trong lịch sử xa và gần, dân tộc Việt Nam đã quá đủ những kinh nghiệm đau thương với Trung Quốc. Gần đây, sự lớn mạnh về mọi mặt của Trung Quốc, nhu cầu nhập cảng năng lượng lớn hơn và đặc biệt là những bước đi mạnh bạo của Trung Quốc trong khu vực biển Đông đã làm cho Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực này tỏ ra lo ngại. Chủ đề Trung Quốc, biển Đông, vốn được cho là “nhạy cảm” cũng đã xuất hiện rải rác trên báo chí nhà nước, và tất nhiên, trên báo chí tự do và các trang blog thì sự cảnh giác về Trung Quốc và vấn đề biển, đảo từ lâu đã là một mối quan tâm thường trực.
*THAM VỌNG CỦA TRUNG QUỐC
Không chỉ riêng một Việt Nam nhỏ bé cảnh giác với Trung Quốc, các nước khác trong khu vực và ngay cả Mỹ cũng phải quan tâm đến siêu cường đang lên Trung Quốc và những động thái của quốc gia này. Trong Bản tường trình nộp lên Tiểu ban Giám sát và điều tra của Mỹ, Tác giả Steven W.Mosher, Chủ tịch Viện Khảo sát Dân số đã đặt vấn đề “Phải chăng Cộng hòa nhận dân Trung Hoa có một chiến lược bá quyền vĩ đại?”. Bài viết cho rằng, từ thời Tổng thống Bush, cả hai Bộ trưởng Quốc Phòng Rumsfeld và Ngoại giao Mỹ Condoleezza Rice đều đưa ra các nghi vấn về ý đồ chiến lược của Trung Quốc.
Bắt đầu với nhân vật Mao Trạch Đông, Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh đạo nước CHNDTH 1949-1976 với câu nói: "Trong tương lai chúng ta sẽ xây dựng Ủy ban Điều hành Trái đất, và lập một kế hoạch thống nhất cho toàn cầu.” và “Phải chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”, Mao Trạch Đông đã đề ra cả một chiến lược vĩ đại nhằm thực hiện ý đồ thống trị cả thế giới như chương trình công nghiệp hóa và quân sự hóa Trung Quốc với mức chi tiêu vào quân đội và công nghiệp vũ khí chiếm đến ba phần năm ngân sách quốc gia; việc giáo dục lòng yêu nước thực tế là nhồi nhét lòng nhiệt thành dân tộc chủ nghĩa và tính bài ngoại xuyên suốt toàn bộ chương trình giáo dục từ mẫu giáo đến đại học; nỗ lực xây dựng một nền móng công nghiệp cho Trung Quốc như là cơ sở sản xuất vũ khí cho tương lai v.v...Theo tác giả, lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc là một Đảng hiếu chiến và giới lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc tuy đã từ bỏ các phương tiện của Mao vì sự sai lầm hiển nhiên, nhưng không từ bỏ cứu cánh của Mao.
Nằm ngay bên cạnh Trung Quốc, nhân dân Việt Nam tất hiểu rất rõ người bạn láng giềng “16 chữ vàng”này.
Blogger Hiệu Minh có bài viết “Đạo Khổng và tình hữu nghị” rất thâm thúy về mối quan hệ giữa hai nước: “Trong các bài giảng của Khổng Tử, có một Qui tắc vàng nổi tiếng. Tử Cống hỏi: “Có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?”. Thầy đáp: “Có lẽ là chữ Thứ (恕?)chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác?” (trích Luận Ngữ).
Xem lại tranh chấp biên giới, hải đảo, đánh bắt hải sản trên biển Đông thì hình như đạo Nho không được đám con cháu 60-70 đời của Khổng Tử nhớ cho lắm. Lẽ ra, bản thân không muốn thuyền đánh cá bị đâm, họ lại thích thú làm thuyền người khác chìm giữa biển khơi. Vì thế, những bài giảng về Luận Ngữ hay chữ Thứ (恕?) dù có hay đến đâu cũng không thể xây dựng và củng cố cho tình hữu nghị.
Việc tranh chấp trên Hoàng Sa, Trường Sa hay biên giới cũng nói lên nguyên tắc vàng của Khổng Tử bị quên lãng “Cái gì mà ta không muốn thì đừng làm cho người khác; cái gì mà ta muốn thì cho kẻ khác”.
Trong một bài viết khác,cũng của blogger Hiệu Minh,“Chuyện phiếm về những anh hàng xóm”, tác giả dùng câu chuyện về hàng xóm ở cạnh nhau va chạm nhau để bàn đến cách chung sống hòa bình của một nước nhỏ ở cạnh một nước lớn mạnh hơn hẳn lại hay có thói quen bắt nạt nước yếu. Điều này có những quy luật của nó: “Thời mở cửa đòi hỏi mỗi con người, mỗi làng xóm, mỗi quốc gia phải sống trong một thế giới chung. Nước Mỹ không thể làm bá chủ hoàn cầu một mình mà không có đồng minh. Trung quốc không thể phát triển được kinh tế nếu không bán được hàng hóa sang các nước khác.” Và:“Nước lớn muốn mạnh phải cần nhóm nước nhỏ đi theo làm đồng minh. Người ta theo vì lợi ích chính trị, kinh tế và cả sự tin tưởng (credibitiy). Nếu người dẫn đầu đối xử không đàng hoàng thì lòng tin sẽ mất. Đó chính là gót chân Asin của các cường quốc.
Trong tranh chấp, người yếu không thể lôi cơ bắp ra thi thố. Nếu nắm vững luật lệ, biết lịch sử của miếng đất, dựa vào bạn bè quanh đó, khó ai có thể tuyên bố chủ quyền một cách dễ dàng”.
*TẦM QUAN TRỌNG CỦA BIỂN ĐÔNG
Những năm gần đây, những sự va chạm, tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước liên quan chủ yếu xuất phát từ tham vọng của Trung Quốc muốn sở hữu hầu hết khu vực biển Đông. Tầm quan trọng của Biển Đông đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Trung viết trong tham luận “Biển Đông hòa bình hay nổi sóng?”: “Biển Đông (East Sea) là tên gọi của Việt Nam cho "South China Sea" (tên gọi thông thường của tiếng Anh), là một biển phụ của Thái Bình Dương, rộng khoảng 3,5 triệu km2. Đấy cũng là biển lớn nhất trong năm đại dương. Biển Đông được bao bọc bởi mười nước và vùng lãnh thổ, gồm Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan.
Biển Đông có hàng trăm quần đảo, các đảo nhỏ, các bãi đá ngầm, giàu tài nguyên khoáng sản và thủy sản. Biển Đông có vị trí chiến lược ở Đông Á và Đông Nam Á, có các tuyến thương mại quốc tế quan trọng giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương - trong đó đặc biệt eo biển Malacca - một trong các tuyến hàng hải thương mại lớn nhất của thế giới. Ngoài ra cần lưu ý Biển Đông còn là vùng kinh tế trực tiếp của khoảng 300 triệu cư dân các nước tại đây”.
Còn đối với Việt Nam, một quốc gia có 28 tỉnh, thành nối liền với biển, biển Đông có tầm quan trọng sống còn. Tác giả Dương Danh Dy viết trong bài “Biển đảo Việt Nam” đăng trên trang bauxitevietnam: “Biển đảo của chúng ta chứa trong lòng rất nhiều tài nguyên cần thiết cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Có biển và đảo, chúng ta sẽ khai thác được nhiều thứ, mang lại ấm no cho đời đời con cháu...Có biển có đảo, chúng ta phải làm sao phát huy được tối đa tiềm năng và thế mạnh của một quốc gia có biển đảo, tiềm năng vô cùng quý báu mà thiên nhiên đã ưu ái cho nước Việt Nam trong khi nhiều quốc gia trên trái đất này không có”.
Vì nhiều lý do lịch sử để lại, đồng thời cũng vì những mâu thuẫn hiện tại về các lợi ích kinh tế, chính trị và chiến lược của các nước có liên quan trong vùng, hiện nay những tranh chấp trên Biển Đông rất phức tạp. Theo tác giả Nguyễn Trung:“Do các cuộc lấn chiếm đảo bằng vũ lực và nhiều tranh chấp quyết liệt của Trung Quốc, đặc biệt là do yêu sách của Trung Quốc về cái gọi là "vùng lưỡi bò" chiếm khoảng 80% diện tích toàn Biển Đông, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông hiện nay là nhạy cảm nhất, nóng bỏng nhất”. Một mặt Trung Quốc không ngừng cho tàu tuần tra khu vực Biển Đông, tàu Trung Quốc thường xuyên đâm chìm hoặc đánh cướp dã man tàu đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam cũng như các động thái mạnh bạo khác, mặt khác Trung Quốc liên tục tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông với người dân và với dư luận quốc tế về chủ quyền của họ trong các khu vực hiện đang có tranh chấp với Việt Nam. Trong bài “Mạng Hoàn cầu Trung Quốc viết những gì về Biển Đông?” đăng trên trang bauxitevietnam, tác giả Dương Danh Dy đã liệt kê ra hàng loạt bài viết về chủ đề này trên tờ báo mạng Hoàn Cầu có “nguồn gốc” từ tờ Hoàn Cầu thời báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản, có phóng viên tại 65 nước trên thế giới. Đáng chú ý có những bài kêu gọi: “Phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông”, “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết”, “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại”, “Trung Quốc không thể lại để mất thời cơ lớn để giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông”...
*NHỮNG BƯỚC ĐI RỤT RÈ CỦA VIỆT NAM
Dù muộn, có vẻ như Nhà Nước Việt Nam đã tỉnh dần ra trước mưu sâu bành trướng của nước láng giềng. Sau một thời gian dài tránh làm phật lòng Trung Quốc kể cả đàn áp sinh viên học sinh biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa, bắt bớ các bloggers viết bài phản đối Trung Quốc, im lặng hoặc chỉ lên tiếng yếu ớt trước những vụ đánh chìm tàu ngư dân Việt Nam trên biển v.v...gần đây trên báo chí quốc doanh của Việt Nam đã có những bài viết về ngư dân bị tàu Trung Quốc đánh cướp hay về chủ đề biển Đông. Và lần đầu tiên tại Hà Nội, một Hội thảo quốc tế về biển Đông đã diễn ra trong hai ngày 26 và 27/11, do Học viện Ngoại giao Việt Nam cùng Hội Luật sư Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự tham gia của các chuyện gia, báo chí...trong và ngoài nước, như một nỗ lực của Việt Nam nhằm quốc tế hóa vấn đề biển Đông. Tiến sĩ Nguyễn Xuận Diện, một trong những người tham gia hội thảo đã có bài “Tường thuật hội thảo quốc tế về biển Đông” này trên trang blog của mình. Một cuộc hội thảo khác, quy mô hẹp, về việc “Xây dựng hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, diễn ra ngày 4.12 tại Hà Nội cũng được tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện thuật lại trên blog. Cuộc hội thảo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “xây dựng hồ sơ pháp lý này, như một bộ hồ sơ gốc, phục vụ đa mục đích nhằm đấu tranh bảo vệ chủ quyền và tiến tới việc trình lên các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế có chức năng xét xử như: Tòa án công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về luật biển, Trọng tài quốc tế”...
Một số động thái khác của Việt Nam cũng được dư luận trong và ngoài nước chú ý là nỗ lực hiện đại hóa không quân và hải quân qua việc đặt mua một số tàu ngầm và máy bay tiêm kích, trực thăng... của Nga.Với các hợp đồng kể trên, Việt Nam sẽ trở thành nước mua nhiều vũ khí và thiết bị quốc phòng của Nga nhất nhì thế giới. Tuy nhiên điều này cũng là xu thế chung của quốc tế và khu vực. Như Trung Quốc năm nay loan báo tăng ngân sách quốc phòng gần 15%, lên tới trên 70 tỷ đôla.
Có vẻ như chính quyền Hà Nội cuối cùng cũng hiểu ra rằng không thể cứ tin tưởng vào mối quan hệ “16 chữ vàng” mãi. Bởi vì, như tác giả Lê Vĩnh Trương đã viết trong bài “Lòng tin và hiện thực để tin cậy” đăng trên trang blog của Lê Minh Phiếu, “Mặt kia của đồng tiền lòng tin là sự nghi ngại. Sự nghi ngại cũng cần thiết như kháng thể được tiêm vào huyết quản dân tộc để bớt thơ ngây” khi “Những cuộc nâng ly ngoại giao và những câu nói lãnh sự ôn tồn khó làm dịu đi tiếng rít của phi cơ và chiến thuyền đang bay “nhầm” vào vùng biển của nước bạn” thì “Sự nghi ngại của nước nhỏ, nếu có, cũng là của để dành đâu đó cho giống nòi tồn tại”. Trong một bài khác, “Chủ quyền Việt Nam và luật pháp quốc tế”, Lê Vĩnh Trương cũng viết rõ: “Hiện nay chưa phải lúc có thể đặt quá nhiều tin tưởng và trông cậy rằng luật pháp quốc tế sẽ bảo vệ Việt Nam trước nguy cơ chủ quyền có thể bị xâm phạm.
Mặt khác, một khi những luật lệ này có nguy cơ bị bỏ qua hay được vận dụng thiếu thiện chí ở một nơi nào đó của thế giới, chúng ta phải tự tìm cách tự trang bị những vũ khí phù hợp để tìm công lý và bảo toàn chủ quyền của mình.
Một nền ngoại giao toàn dân, toàn quân và một nền quốc phòng toàn dân, toàn quân cũng như những liên minh thực tế hơn nữa có thể là một phần câu trả lời hiện nay”.